
Sơ lược về cá phổi



Cá phổi phân bố tự nhiên ở châu Phi, Nam Mỹ và Úc. Thời cổ đại, các loài cá phổi từng phát triển rất đông đúc trên địa cầu nhưng ngày nay chỉ còn lại ba họ với tổng cộng sáu loài. Ở những loài cá bình thường, bong bóng (swim bladder) chỉ là bộ phận giúp cá giữ thăng bằng khi bơi nhưng ở cá phổi, bong bóng phát triển thành phổi để lấy ô-xy trực tiếp từ không khí, đồng thời đào thải thán khí. Cấu trúc phổi như thế này cũng được phát hiện ở những loài lưỡng cư sơ khai.
Cá phổi và cá vây tay thuộc về phân lớp cá vây tay (Sarcopterygii). Tổ tiên của các loài cá phổi xuất hiện vào thời kỳ Tiền Devon (cách nay 416-397 triệu năm) và phát triển mạnh trong nhiều triệu năm sau đó. Ban đầu chúng sống ở biển nhưng vào kỷ Carbon (cách nay 354-290 triệu năm), hầu hết các loài cá phổi bắt đầu tiến vào lục địa và thích nghi với môi trường nước ngọt, chúng là một trong những cư dân cổ xưa nhất trên lục địa Gondwana. Vào kỷ Creta (cách nay 144-65 triệu năm), số lượng cá phổi bắt đầu suy giảm và hoàn toàn biến mất khỏi Bắc bán cầu; ngày nay cá phổi chỉ xuất hiện ở một số vùng nhất định tại châu Phi, Nam Mỹ và châu Úc. Về mặt tiến hoá, cá phổi hầu như không thay đổi gì nhiều so với tổ tiên xa xưa của chúng, thực tế có những nghiên cứu khoa học cho rằng loài cá phổi châu Úc không hề thay đổi gì từ 100 triệu năm nay!
Các họ cá phổi ngày nay bao gồm họ cá phổi Protopteridae phân bố ở châu Phi (4 loài), họ cá phổi Lepidosirenidae phân bố ở Nam Mỹ (1 loài) và họ cá phổi Ceratodontidae phân bố ở châu Úc (1 loài). Tất cả chúng đều có thân hình thuôn dài giống như rắn và có kích thước rất to, chẳng hạn có loài cá phổi châu Phi dài đến 2 mét.
Cá phổi là loài săn mồi, chúng ăn hầu hết những thứ bắt được và vừa với miệng của chúng. Khẩu phần thức ăn của chúng gồm cá, tôm, cua và nhiều thứ khác. Cá phổi cũng chịu đựng được mọi loại nước (miễn là độ pH không quá cao) và có khả năng sống trong những vùng nước mà các loài cá khác không thể tồn tại được nhờ khả năng hô hấp của mình.
Cá phổi có thể sống sót nơi có rất ít hay hoàn toàn không có nước. Vào mùa khô, cá phổi Nam Mỹ đào lỗ trong bùn và ở trong đó cho đến khi có nước trở lại. Cá phổi châu Phi còn có khả năng tạo ra một lớp dịch mà khi khô đi làm thành một cái kén cứng giúp chúng sống trong đó cho đến khi nước về. Khi nằm trong kén, cá rơi vào trạng thái tiềm sinh, hoạt động của cơ thể giảm xuống rất thấp (1/60 so với mức bình thường) và chỉ đủ để cá sống sót, những chất thải được chuyển hoá thành urê, chất ít độc hại hơn so với ammonia. Cá có thể ở trạng thái này lâu đến 3 năm. Cá phổi châu Úc không có khả năng tiềm sinh nhưng chúng cũng có thể sống sót ở bất cứ chỗ nào có nước nhờ khả năng hô hấp của mình.
Các họ cá phổi Protopteridae và Lepidosirenidae xây tổ trước khi đẻ trứng. Cá đực sẽ bảo vệ tổ cho đến khi trứng nở. Ấu trùng cá phổi có mang ngoài như lông vũ nhưng bộ phận này biến mất khi cá trưởng thành. Họ cá phổi Ceratodontidae không xây tổ mà đẻ trứng trực tiếp xuống đáy.
Hồ nuôi cá phổi rất đơn giản, nền đáy có thể để trống hoặc bố trí bằng sỏi, cát hay đất sét. Có thể trồng nhiều loại thuỷ sinh khác nhau hay bố trí thêm đá, gỗ lũa với mục đích tạo nơi trú ẩn nhưng tránh bố trí các vật nhọn dễ gây thương tích cho cá. Nhiều loài cá khác nhau như cichlid, cá rồng, cá khổng tượng, khủng long… có thể nuôi chung với cá phổi nhưng cần cân nhắc kích thước của các cá thể trước khi đem thả chung vào hồ vì cá phổi vốn là loài ăn thịt và hung dữ.


---> YTC <---




















"center>


